PHỤC SINH.


221284_128436823900041_100002011737695_196308_1553569_o

1/Trung tuần Tháng Tư, niên trưởng Võ Như gởi cho một lá thơ, đại để:
“…một cụ bạn, vừa bước lên tám mươi, gửi tấm thiệp mời tham-dự đám cưới của cụ với một bà bạn 55 tuổi. Thư dặn-dò nhất định phải đến (“không đến là không còn anh em gì nữa!”). Ngu đệ lòng rất muốn tham-dự chuyện coi như lạ-kỳ của bạn bè, nhưng ngực đau quá không lái xe nổi, đành cáo lỗi và gửi mừng cụ bạn một bài Hát Nói.

Mừng Bác N.X.
“Bẩy mươi thiên-hạ đã già,
Tám mươi ngài vẫn còn là thanh-niên.
Xa quê lắm đứa ưu-phiền,
Vắng nhà có kẻ lên tiên không bằng.

Nữ thê quá dĩ *
Tuổi tám mươi đất Mỹ cưới bà hai.
Rề-phiu-di mấy kẻ đã hơn ngài,
Thật đúng chữ Lão phu đắc kỳ nữ thê vô bất
lợi **
Quẻ đại quá bốn liền hai nối,
Chữ khô dương bẩy tối ba ngày,
Tuổi già sức vẫn còn hay,
Quyết làm kẻ hồi xuân khuất phục.
Mặc thế sự nhục vinh vinh nhục,
Đã mua mâm ta thực biết ta!
Từ nay lại có cơm nhà!”

(Võ Như)
*-Chữ Kinh Dịch: Tượng viết lão phu nữ thê quá dĩ tương dữ hà( Hào Lục đầu).
**-Chữ Kinh Thi: Cửu di khô dương sinh đề, lão phu đắc kỳ nữ thê vô bất lợi.
(Võ-Như) .

Ps- Cụ bạn tôi cấp bậc ĐT, 75 cùng thoát nổi tay giặc như tôi, để lại cụ bà không chịu đi vì còn bố mẹ già.Nay cụ bạn ở Mỹ một mình nổi hứng cưới bà hai về lo cơm nước, giỏi quá!

2/kẻ hậu sinh mạo muội thêm
Phần KẾT bài Hát Nói trên:

“Trời Tây tháng tỵ chuyện…phun (a)
Đất Nam lão phụ gặp duyên l…(à) ấy chồng (b)
Mộc khô sinh hoá sinh hoa !” ((c)
*
Chú:
(a)April Fool biến thành April Full (hào 02/quẻ Đại Quá trong bài Hát Nói)
(b)hào 05 dương kết hợp với hào 06 – âm/quẻ Đại Quá:
-cũng trong đầu tháng 04, một người quen trong nước (lão phụ) đã đi thêm bước nữa; nàng 75t gốc Nhà giáo lấy chàng trai anh hùng 49t.
(c)quẻ Đại Quá dẫn đến quẻ Khảm (biến âm Khẩm = quá tải): truyện Dân gian “Sơn tinh hỏi vợ tạo nên cuộc chiến với Thủy tinh” tiền đề cho nạn Đại Hồng Thủy khiến tộc Việt phải rời Động Đình hồ mà lên thượng Nguồn cư trú tạo nên tên Việt Thượng (dấu chấm). Sau này sử Tàu, người Hán đọc là Việt Thường (dấu huyền)
(mời đọc Nguyễn Thiếu Dũng “Nguồn gốc Kinh Dịch” – Bagan3′s Blog )

3/ Thiên Địa chi trung (=Nhân)
Kính mời xem clip video dưới đây:
Lão bà 80t biểu diễn điệu luân vũ với những động tác “te” (terre -thuật ngữ của dân nhẩy đầm) tuyệt vời…

(Trần Sơn -04/2014)

Posted in Uncategorized | Leave a comment

ẢI NAM QUAN.


1146562_173013892885230_901808471_n
VRNs(18.03.2014) – California, USA – Nhiều thập niên gần đây, khi nhà cầm quyền Cộng Sản đã để lộ dã tâm bán nước, hiện nguyên hình là một “CHÍNH PHỦ BÙ NHÌN” của Tầu Chệt, thì vấn đề Ải Nam Quan lại rộ lên từ Nam chí Bắc, từ đất Tổ sang đến các cộng đồng Việt Nam hải ngoại.

Tùy theo vị trí của những nguồn dư luận, mà một trong hai khuynh hướng đối lập nhau được thể hiện. Với những người yêu nước, dù ở trong nước hay ở hải ngoại, thì Ải Nam Quan là của TA, trong khi Hà Nội và các tâm điểm thảo luận do Chính Phủ Bù Nhìn Cộng Sản tổ chức thì lại cho rắng đó là của TẦU. Dĩ nhiên, tuyệt đại đa số người Việt hải ngoại thì luôn bảo vệ Đất Tổ và không nhân nhượng trong lập trường cho rằng Ải Nam Quan là của TA, chỉ trừ một thiểu số rất ít ỏi, những kẻ vong bản, gàn dở,…, thì mới cong lưng, cúi đầu chấp nhận lý luận của Đảng Cộng Sản Việt Nam mà cho rằng Ải Nam Quan vốn dĩ là do TẦU xây nên, thì nay TẦU chiếm giữ cũng là hợp lý thôi.

Những tay gàn dở đã hùa theo Tầu để dựa vào hiệp ước Thiên Tân ký năm 1885 mà cho rằng “CHÍNH VIỆT NAM ĐÃ KÝ KẾT HIỆP ƯỚC THIÊN TÂN và chấp nhận rằng Ải Nam Quan là của Tầu. Hiệp ước quốc tế này đã chứng minh rằng Ải Nam Quan là của TẦU. Ngoài ra, cái kiến trúc Ải Nam Quan từ xưa đến nay đều do Tầu xây cho nên, theo đúng lý lẽ thì Ải Nam Quan là của Tầu!” Chủ nhân của lý luận gàn dở ấy quên rằng khi đó, Pháp đã đô hộ Việt Nam và vì muốn hòa giải với Tầu, nên Thực Dân Pháp đã ép ta, lúc đó chẳng có sức mạnh nào cả, phải ký kết, không ký cũng không được.

Đến đây ta phải minh định rõ ràng hai điểm khác nhau: Kiến trúc Ải Nam Quan và Dải Đất trên đó Ải Nam Quan được xây dựng. Vì thế, khi nói đến chuyện tranh chấp ai là chủ Ải Nam Quan thì phải phân biệt: Chủ cái kiến trúc đó, và Chủ Đất. Một khi đã là “Ải” hay “Trấn Biên Thùy” thì nói đến sự sử dụng chung của cả hai bên biên giới.

Do đó khi nói: “Giang Sơn ta từ Ái Nam Quan đến Mũi Cà Mâu”, không có nghĩa là Giang Sơn từ bên kia, phía Bắc của Ải Nam Quan kéo dài đến Mũi Cà Mâu, (tức là cái kiến trúc Ải Nam Quan thuộc về Ta) mà chỉ có nghĩa là “Đất” của ta tính từ Trung Tâm Điểm của Ải Nam Quan, nói đơn giản hơn, nếu đem Ải Nam Quan ra cưa làm đôi, thì Việt Nam và Tầu, mỗi nước chiếm một nửa phần đất, mà trên đó Ải Nam Quan được xây dựng! Cũng giống như khi nói: “Tôi đi từ Hà Nội đến Sài gòn”, không có nghĩa là “tôi đi từ biên giới phía Bắc của Hà Nội đến Sài Gòn”, mà có thể từ biên giới phía Nam của Hà Nội, hay từ giữa lòng Hà Nội mà đi…

Hơn nữa, chính chữ “Ải” đã nói lên rằng đó là cái cửa ra vào ở đường biên giới. Theo Tự Điển Nguyễn Văn Khôn, Ải = Frontier pass. Ải có thể là một cấu trúc lớn, cũng có thể chỉ là một chòi canh, một cánh cửa giao thương giữa hai nước có lính gác. Tại nhiều “cửa Ải” ở Trung đông, đôi khi chỉ là một cái rào cản bằng kẽm gai, lính gác hai bên kéo qua kéo lại. Như thế, Ải không thuộc về bất cứ Một nước nào mà phải thuộc về cả hai quốc gia nằm hai bên Ài, nếu chỉ có một Ải chung.

Thực tế lịch sử đã chứng minh rằng dải đất trên đó mà Ải Nam Quan được xây dựng là của TA một nửa: Nửa phía Nam thuộc về Ta, nửa phía Bắc thuộc về Tầu.

140317007

Nhiều sự kiện liên quan đến Ải Nam Quan đã minh chứng rằng Ải Nam Quan có một nửa (xẻ theo chiều ngang) là của Ta, và một nửa của Tầu như sau:

Theo Ðại Nam Nhất Thống Chí (1882) đoạn nói về Ải Nam Quan:

Ải Nam Quan cách tỉnh thành (Lạng Sơn) 31 dặm về phía bắc, thuộc châu Văn Uyên, phía bắc giáp châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây nước Thanh, tức là chỗ mà người Thanh gọi Trấn Nam Quan. Cửa nầy dựng từ năm Gia Tĩnh nhà Minh, đến năm Ung Chính thứ 3 (1725) nhà Thanh, án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại có tên nữa là “Ðại Nam Quan”, phía đông là một dải núi đất, phía tây là một dải núi đá, đều dựa theo chân núi xây gạch làm tường, gồm 119 trượng, cửa quan đặt ở quãng giữa có biển đề “Trấn Nam Quan”, dựng từ năm Ung Chính thứ 6 (1728) triều Thanh, có một cửa, có khóa, chỉ khi nào có công việc của sứ bộ mới mở. Bên trên cửa có trùng đài, biển đề 4 chữ “Trung ngoại nhất gia”, dựng từ năm Tân Sửu [1781] đời Càn Long nhà Thanh. Phía bắc cửa có “Chiêu đức đài”, đằng sau đài có “Ðình tham đường” (nhà giữ ngựa) của nước Thanh; phía nam có “Ngưỡng đức đài” của nước ta, bên tả bên hữu, có hai dãy hành lang, mỗi khi sứ bộ đến cửa quan thì dùng chỗ nầy làm nơi tạm nghỉ.“

Theo “Ðịa-dư Các Tỉnh Bắc-Kỳ” của Ngô Vi-Liễn, Phạm Văn-Thư và Ðỗ Ðình-Nghiêm (Nhà in Lê Văn-Tân xuất-bản, Hà-Nội, 1926):

“Cửa Nam-Quan ở ngay biên-giới Trung-quốc và Việt-Nam. Kể từ Hà-Nội lên đến tỉnh-lỵ Lạng-Sơn là 150 km; đến cây-số 152 là chợ Kỳ-Lừa; đến cây-số 158 là Tam-Lung; đến cây-số 162 là Ðồng-Ðăng; đến cây-số 167 là cửa Nam-Quan đi sang Long-Châu bên Tàu. Như vậy từ Ðồng-Ðăng lên cửa Nam-Quan có 5 km; từ Kỳ-Lừa lên Nam-Quan mất 15 km [về phía tây-nam chợ Kỳ-Lừa có động Tam-Thanh, trước động Tam-Thanh có núi Vọng Phu hay tượng nàng Tô-Thị là những danh thắng của tỉnh Lạng-Sơn] và từ tỉnh-lỵ Lạng-Sơn lên Nam-Quan là 17 km.“

Quyển “Phương Ðình Dư địa chí” của Nguyễn Văn Siêu (bản dịch của Ngô Mạnh-Nghinh, Tự-Do xuất-bản, Saigon, 1960) thì ghi:

“Cửa hay ải Nam-Quan, đời Hậu-Lê trở về trước gọi là cửa Pha-Lũy (hay Pha-Dữ), ở về phía bắc châu Văn-Uyên, trấn Lạng-Sơn. Từ châu Bằng-Tường (tỉnh Quảng-Tây) bên Trung-quốc muốn vào nước An-Nam phải qua cửa quan này“.

-Về các sự kiện lịch sử liên quan đến Ải Nam Quan:

a) Năm 981, sau khi vua Đinh Tiên Hoàng của nước ta (tên lúc đó được gọi là “Đại Cồ Việt”) bị ám sát, vua nhà Tống là Tống Thái Tông sai Hầu Nhân Bảo tấn công nước ta qua đường Lạng Sơn, đã dừng chân ở phía Bắc của Ải Nam Quan, rồi mới truyền lệnh cho mũi tấn công thứ nhất là từ Ải Nam Quan, trong khi các mũi tấn công khác thì tìm đường khác mà xâm nhập. Việc này đã minh định là từ bên này cửa của Ải Nam Quan là đất của Ta.

b) Năm 1077, một lần nữa, Tống Thần Tông sai Quách Quỳ tấn công nước ta, lúc đó gọi là Đại Việt. Quân Tống cũng xếp hàng bên kia Ải Nam Quan rồi mới tiến xuống Ải Quyết Lý rồi tiếp theo là Ai Chi Lăng. (Ải Quyết Lý và Ải Chi Lăng là hai nơi cửa ngõ quan trọng được trấn giữ bởi một số quan lính ta. Hai Ải này không phải là Ải Biên Giới nên hoàn toàn do ta làm chủ).

c) Tiếp sau đó, đã hai lần vua nhà Nguyên là Hốt Tất Liệt (Kubilai) saiThoát Hoan tấn công Đại Việt bằng đường bộ qua Lạng Sơn năm 1284, 1287. Quân lính cũng phải đi qua ải Nam Quan mà xâm nhập nước ta.

d) Năm 1774, sau khi Ải Nam Quan được Tầu dổi tên là Trấn Nam Quan, thì Ðốc trấn Lạng-Sơn là Nguyễn Trọng Ðang cho tu bổ Ngưỡng Đức Đài nằm về phía nam của Trấn Nam Quan, phía nước mình.

e) Năm 1788, theo lời cầu viện của thân mẫu của Lê Duy Kỳ, vua nhà Thanh là Càn Long (1736-1795) cử Tôn Sĩ Nghị cầm đại quân sang Đại Việt, đi bằng ba ngả: Tôn Sĩ Nghị cùng Hứa Thế Hanh vào cửa Nam Quan, qua Lạng Sơn đi xuống, Sầm Nghi Đống đi qua đường Cao Bằng, và đề đốc Vân Nam Ô Đại Kinh vào đường Tuyên Quang. Đoàn quân viễn chinh nhà Thanh bị vua nhà Tây Sơn là Quang Trung đánh tan, phải chạy về vào đầu năm kỷ dậu (1789).

140317006

Ngoài ra, còn hai câu chuyện mang tính lịch sử liên quan đến Ải Nam Quan, đã chứng minh rằng Ải Nam Quan là của Ta:

1-Vào khoảng 1406-1417, thế kỷ 15, Nguyễn Phi Khanh bị quân Tầu bắt về Tầu. Nguyễn Trãi đi theo cha tới Ải Nam Quan, thì phải dừng lại, vì Nguyễn Phi Khanh dặn con phải trở về, lo đuổi quân Tầu, báo thù cho cha. Nguyễn Trãi vừa khóc vừa quay về và đầu quân dưới trướng Lê Lợi vào năm 1417. Như thế, Ải Nam Quan đã có từ trước thế kỷ 15.

2- Trước đó, vào năm 1308, thế kỷ 14, Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang Tầu, đến cửa Ài Nam Quan bị quân Nguyên bắt chui vào cánh cửa nhỏ. Ông chống lại, thì bọn quan canh cửa đưa câu đối, nếu đối được thì họ sẽ mở cửa. Câu đối có nội dung như sau:

“Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan”
(nghĩa là: Tới cửa ải trễ, cửa quan đóng, mời khách qua đường cứ qua)

Một vế đối hóc búa đến 4 chữ quan và 3 chữ quá? Mạc Đĩnh Chi thấy khó, nhưng ông đã nhanh trí dùng mẹo để đối như sau:

“Tiên đối dị, đối đối nan, thỉnh Tiên sinh tiên đối”
(nghĩa là: Ra câu đối dễ, đối câu đối khó, xin mời Tiên sinh đối trước).

Vế đối của ông có 4 chữ đối và 3 chữ tiên, đúng với yêu cầu câu đối của viên quan ấy. Mạc Đĩnh Chi tìm được vế đối hay, khiến người Nguyên phải phục và liền mở cửa ải để đoàn sứ bộ của Mạc Đĩnh Chi qua biên giới.

Như thế, dải đất phía Nam của Ải Nam Quan nguyên thủy được xây dựng là thuộc của Ta, còn Tầu chỉ có cái kiến trúc nằm trên mảnh đất đó.

Đến khi Hiệp Ước Thiên Tân được ký, thì Tầu đã di chuyển Ải Nam Quan vào sâu trong nội địa Tầu rồi, và đã xây một cái kiến trúc mới nằm ngay trong đất của TA.

Năm 1972, Chiến dịch Linebacker II do Nixon chỉ huy nhằm đánh thẳng vào đầu não Bắc Việt bằng bom. Bắc Việt cầu cứu Tầu. Lập tức Tầu đã lợi dụng chuyện này, cho lập một hàng rào phòng thủ bằng Hỏa Tiễn Sam, rồi dồn quân cắm sâu vào nội địa Bắc Việt với lý luận là phải bảo vệ hàng rào phòng thủ này. Khi cuộc ném bom chấm dứt bằng Hiệp Định Paris 1973, Tầu “quên” không rút quân khỏi những vùng đã đóng quân trước đây, và chiếm luôn những đỉnh cao đó.

Đến trận Chiến Tranh Biên Giới Việt Trung, 1979, Tầu đã tung quân tấn công 6 tỉnh biên giới: Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh, cũng khởi điểm từ Ải Nam Quan (mới) và lập nhiều đồn mới về phía Nam của Ải Nam Quan.

Ngày 5 tháng 3 năm 1979, sau khi chiến tranh kết thúc, Tầu rút quân về nước, nhưng cũng “quên” không trả đất và vẫn chiếm giữ vùng đất phía nam ải Nam Quan. Vì thế, trạm hải quan của Bắc Việt phải một lần nữa dời xuống phía nam ải nầy, sâu trong lãnh thổ Việt Nam khoảng 300 đến 400m về phía Nam.

Điều nhục nhã cho lịch sử Việt là vào ngày 30 tháng 12 năm 1999, tại Hà nội, Nguyễn Mạnh Cầm, Ngoại Trưởng của Bắc Việt và Đường Gia Triển của Trung quốc chính thức ký ‘Hiệp ước biên giới trên đất liền’, xác nhận Ải Nam Quan thuộc về Tầu.

(http://vi.wikipedia.org/wiki/Nam_Quan).

Như thế, dài đất mà trên đó xây Ải Nam Quan (cũ) là của hai nước Việt và Tầu. Sau này, Tầu lấn sân, xây Ải Nam Quan vào sâu trong đất của ta cả ngàn mét, và được Pháp công nhận. Vậy, công trình Ải Nam Quan (mới) là do người Tầu xây thật, nhưng dải đất mà trên đó Tầu xây Ải Nam Quan lại là của Việt Nam. Đó là sự chiếm đoạt giang sơn Tổ Quốc Ta rõ ràng.

Người Việt sau này có ý muốn đòi lại Ải Nam Quan, là muốn đòi lại mảnh đất mà trên đó, Tầu xây dựng cái Ái Nam Quan kia, chứ còn cái công trình xây cất bẳng gạch, xi măng đó thì đúng là của Tầu thiệt, không ai thèm đòi.

Giả sử mà bọn Tầu Ô kia mà chịu trả đất, thi ta nhất định giật sập cái Ải đó, hoặc biến cái kiến trúc đá đó thành một cái cầu tiêu khổng lồ cho dân Việt xử dụng, và sẽ xây một công trình khác, trên đúng chỗ mà xưa kia ông cha ta đã gọi là Ải Nam Quan cũ từ thế kỷ trước thế kỷ thứ 14.

Hiện nay, những kẻ nào lý luận theo kiểu Cộng Sản Tầu và Cộng Sản Việt Nam mà cho rằng Ải Nam Quan là của Tầu, đều là những kẻ vọng ngoại, phản quốc, đáng bị trừng trị theo Luật Hồng Đức là “lăng trì” hay cho 4 ngựa phân thây, tài sản bị xung công, vợ con bị đầy lên khu nước độc. Nếu chiếu theo Luật Hồng Đức như thế thì cả 15 tên thuộc Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam đều phải bị xử “lăng trì” hết vì tất cả đã đồng ý bán nước cho kẻ thù kinh niên là Tầu Cộng. Mong điều này sớm đến.
(Chu Tất Tiến)

MỜI ĐỌC THÊM
Các bài biên khảo thêm & hình ảnh minh chứng của tác giả Mai Thái Lĩnh:
12.03.2010-MTL1-400x256

http://ttngbt.blogspot.com/2010/03/mai-thai-linh-ai-nam-quan-trong-hien_22.html

Posted in Uncategorized | Leave a comment

Đi tìm chữ viết cổ – từ thời Hùng Vương.


Posted in Uncategorized | 1 Comment

TRANH Dân gian và CÂU ĐỐI Xuân GIÁP NGỌ 2014 (Trần Sơn)


248895_171039579622976_100001508045544_412287_2631143_n
CUNG CHÚC TÂN XUÂN

“Cuối năm Tỵ, đì đoàng đôi pháo nhạt
Giáp Ngọ sang, ngựa đá Hán nô vong !”

1560504_605779599470821_567504672_n

Posted in Uncategorized | Leave a comment

MÃ ĐỀ DƯƠNG CƯỚC Anh Hùng Tận THÂN DẬU NIÊN LAI Kiến Thái Bình.


562936_10152242216307729_1293510240_n

Cửu cửu càn khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn.
Trực đáo Dương đầu, Mã vĩ…
-Sấm ký Trạng Trình-

-PHẦN 1 -
Theo GS Nguyễn Lý Tưởng
Trích:
-”Con số 9 (Cửu) là con số đầy bí ẩn mà khắp thế giới, Đông cũng như Tây đều nhắc đến…Con số 9 trong Kinh Thánh của người Do Thái từ mấy ngàn năm trước là sự huyền nhiệm” (Xuân Đại Việt 2014)…
-Đối chiếu…chúng ta thấy năm 1945 (4+5=9) nhà Nguyễn mất ngôi, kết thúc chiến tranh thế giới lần thứ II, Việt Minh cướp chính quyền tại Hà Nôi…Năm 1954 đất nước chia hai: miền Bắc do Hồ Chí Minh lãnh đạo (chế độ CS) miền Nam do Ngô Đình Diệm lãnh đạo (chế độ Cộng Hòa)…Năm 1963 Tổng thống Ngô Đình Diệm bị thảm sát…Năm 1972 quân Bắc Việt chiếm một nửa tỉnh Quảng Trị, chiến tranh tàn phá…
Nhưng nếu cộng lại cả bốn số thì không phải là con số 9.

-Vì thế người ta chờ đợi con số 9 hoàn hảo nghĩa là bốn số cộng lại có con số 9 mới được.
Năm Ngọ, năm Mùi phải gần với số 9 hoàn hảo thì mới đúng với lời sấm Trạng Trình.
Năm Ngọ, năm Mùi sắp tới là năm sẽ có nhiều biến cố mà anh hùng sẽ tận số. Năm Thân 2016, năm Dậu 2017 sẽ có thái bình cho Việt Nam và thế giới…
-Người ta tin rằng năm Ngọ (2014) Năm Mùi (2015) là năm sẽ có nhiều biến cố lớn cho Việt Nam và sẽ kết thúc vào năm Thân (2016)…Năm đó, anh hùng sẽ tận số.

Vậy anh hùng mà Trạng Trình Nguyễn Bĩnh Khiêm nói đây là ai?
Có người giải thích: “anh hùng” đây là Cộng Sản VN…vì chúng tự xưng là “anh hùng” (nhân dân anh hùng, quân đội anh hùng, anh hùng lao động…cái gì của Cộng Sản Việt Nam đều được đặt tên là anh hùng)…
Tình hình hiện nay biến chuyển rất nhanh, chưa biết ngày nào xảy ra các biến động mà Sấm của Trạng Trình đã nói đến 500 năm về trước. Chúng ta chờ xem và hy vọng”…
(NLT – Xuân Đại Việt 2014 Giáp Ngọ trang 14- 15)

-PHẦN 2-
Xin thêm và tóm lược đôi chi tiết liên quan đã đề cập trong bài viết “Điềm gở của Năm Giáp Ngọ 2014 – Trần Sơn (xét theo Lịch số Tử Vi và Dịch Lý Cổ Việt)”:

*Giáp Ngọ – qua Dịch Lý
Tượng số 07
Chiêm được Quẻ Ly:
-Tiên thiên : Ly thuộc hướng Đông
(biển Đông dần dà đang bị Tàu khống chế; đảng CSvn lại tiếp tay dâng thêm lãnh hải, biển đảo& tài nguyên..)
Cổ Việt/Dịch lý:
-Ly là lửa (hỏa – màu đỏ – sáng)
-biến âm là “ly = chia ly, phân ly”
-biến âm là “lệ =lệ thuộc”
(đảng CSvn lệ thuộc CS Tàu về nhiều phương diện KT, QS, Ngoại giao & Cai trị – Điều hành đất nước…)
-biến âm là “lề = lề thói thiên về cảm tính”
(nạn tham nhũng là đại vấn nạn của tính gia tộc tiến đến bè phái, phe nhóm lợi ích…đặt quyền và lợi của Đảng CSvn trên cả Hiến Pháp và Lợi ích của Quốc Gia & Dân Tộc)
-Quẻ Ly (cùng với quẻ Khảm) là hai quẻ cuối của Kinh Thượng được Lời Tượng của Dịch cho là “Thiên Địa chi trung”.
-Sau Khảm (tiếng Việt là khẩm = bề bộn, quá sức) nên đến quẻ Ly là cần nơi nương tựa. Chỗ dựa đây, Lý của Dịch là Lòng Dân (Thiên/NHÂN/Địa) trong nghĩa “Ý Dân là Ý Trời”.
Trong nhiều thập niên qua – đảng CSvn có (còn) dựa vào lòng Dân trong điều hành đất nước ?

Hay đang dấn sâu vào lệ thuộc Chủ nghĩa XH “anh hùng” của các đồng chí đàn anh – đặc biệt là Cộng Sản Tàu?

*Giáp Ngọ/Tử Vi
-Thái Tuế cư cung Ngọ. Sao Lưu Thiên Mã tại cung Thân ngộ Lưu Triệt, Lưu Tang môn.
(Ngựa cùng đường, què quặt… hay Ngựa vong (chết); ngựa xe tang…)
-Đảng Cộng Sản Đông Dương TIỀN THÂN của đảng CSVN hiện tại đã được Hồ Chí Minh thành lập tại Nam Trung Hoa vào Năm Canh NGỌ 1930.
Cả hai đảng Cộng Sản Tàu và Việt Nam đều tuyên xưng đã và đang áp dụng Chủ Nghĩa Anh Hùng dân tộc cho “đất nước” của mình…

Nay “con Ngựa VN -Canh NGỌ đang lâm vào tuyệt lộ dẫn đến tử vong .
Khác gì Câu truyền tụng dân gian:
“Bao giờ Đồng cạn, Hồ khô;
Chinh rơi, Giáp rách CƠ ĐỒ MỚI HƯNG”

Ứng chăng với Sấm ký Trạng Trình ?
-Trần Sơn -

MỜI ĐỌC thêm:

http://bagan3.me/2014/01/08/diem-go-cua-nam-giap-ngo-2014-xet-theo-lich-so-tu-vi-va-dich-ly-co-viet/

Posted in Uncategorized | 3 Comments

Điềm gở của năm Giáp Ngọ 2014 (xét theo Lịch số Tử Vi và Dịch lý Cổ Việt).


420965_405936729423206_158275007522714_1816870_2035761582_n

Cuối năm Tỵ, vào đầu năm 2014, sau nhiều tháng năm lấp liếm, nhà nước/đảng csvn đã đưa ra xét xử vụ tham nhũng tai tiếng của tập đoàn quốc doanh – “nắm đấm thép kinh tế” của Nguyễn Tấn Dũng, thủ tướng hai nhiệm kỳ đương nhiệm.
Vụ xử đang diễn tiến với một tuyên án “tử hình” nguyên can…và đường dây hối lộ đã dẫn tới UVTU-dự khuyết/thượng tướng thứ trưởng Bộ CA tên Phạm Quý Ngọ. Và người biết chuyện cho rằng sẽ dẫn tới UVTU/đại tướng bộ trưởng Bộ CA…rồi cứ thế mà lần lên “chóp bu”.
Người Dân Việt đã chứng kiến nhiều trò “xử án đảng viên kiểu CSvn” trong quá khứ nên không lạc quan – mà cho rằng…chỉ là một trong các vụ “thí tốt”…để cứu đảng CSvn, kẻ đã phá hoại Đất Nước, hèn với giặc Tàu nhưng tàn ác, nhũng lạm chúng dân, đang mất dần uy tín trên trường Quốc Tế và lòng Dân trong Nước và tại quốc ngoại.

Một đầu mối được “bật mí” nhận hối lộ 02 triệu đô la của nguyên can (Chí Dũng) là tướng PCNgọ – người tuổi NGỌ. Cho dù đảng CSvn bầy trò “Sản nô ôm bom (tuế) phá lộ, vẽ đường cho hươu (đồng bọn) chạy” thì …
-Thiên Cơ lại báo cho chúng ta dấu hiệu ĐIỀM GỞ của Năm Giáp Ngọ 2014.

* XÉT LỊCH SỐ Tử Vi:
Bình dân ta có câu “Thiên mã gặp Tuế (Thái tuế) ngộ Triệt (lộ) thì chẳng chột, cũng què” :
-năm Giáp Ngọ, sao Thái Tuế đóng tại cung Ngọ; sao lưu Thiên mã (ngựa trời) đóng tại cung Thân; Và sao lưu Triệt lộ cũng đóng tại cung Thân.
Vậy năm 2014 sẽ gây khốn đốn:
-cho những người tuổi NGỌ -có sao “quả tạ” (Thái tuế) chiếu;
-cho tuổi TÝ vì sao lưu Tuế phá luôn đóng đối cung với cung có sao lưu Thái tuế;
-kết hợp với các cung Mệnh, Thân, Tài, Quan, Thiên Di và Cung Lưu niên hạn trú đóng tại Cung THÂN với Lưu Thiên mã ngộ Lưu Triệt lộ.

*XÉT DỊCH LÝ – Cổ Việt:
Năm 2014 – tượng số 7 : Quẻ LY.
a)Đây là quẻ (cùng với quẻ Khảm) tại cuối phần Kinh Thượng của Dịch. Quẻ Khảm – tiếng Việt là “khẩm” nghĩa là mang nặng quá sức (khó khăn bộn bề) nên cần được nương tựa tiếp là Quẻ LY.
-LY – từ Tiếng Việt Cổ là lửa rồi biến âm => li (chia ly) => lệ (nghĩa là thuộc – lệ thuộc) => lệ -nghĩa là lệ hay lề thói (mang nặng tình Người như “Phép Vua thua Lệ Làng”) .
-Ly cũng là Hỏa; từ đó mà có nghĩa là đỏ, sáng sủa.

b)Quẻ Ly sau quẻ Khảm (hãm) chỉ dấu chỗ “nương tựa”.
Vậy LY có nghĩa là chia ly – lệ thuộc hay mang tình Người hay tùy theo cách nương tựa (vào Lòng Dân) mà sáng sủa.
-(Khảm và) LY ở giữa trời và và giữa đất “Thiên Địa chi Trung” Lời Tượng.
- Ỡ giữa là Nhân: Tam tài – Thiên Địa Nhân; Trung cũng là Đạo (Trung Hòa) và Trung Hiếu với Tổ tiên (nết văn hóa đặc sắc của Tộc Việt).

c)Tiền nhân luôn đưa ra lời Khuyên Bảo con cháu Tộc Việt.
-Hào 06 “Vương dụng xuất chinh” : (Nhà cầm quyền) Cương quá thì dễ tàn bạo – Lời tương.
-Không dựa vào LÒNG DÂN – bỏ qua sự khôn ngoan đạo đức…thì sẽ dẫn đến quẻ Hỏa Sơn LỮ.
Lữ là suy – đến nỗi mất chỗ ở – phải tha phương…
Như thế : Năm Ngọ không phải là “Mã đáo Thành Công” theo lối con dân nhà Hán hay bọn Hán nô/CSvn thường nói.

*TAM KẾT:
-liên tưởng đến Hiện trạng nội tình VN
qua phân tích Quẻ PHỤC đã đăng tải :

http://bagan3.me/2012/09/04/hien-trang-noi-tinh-vn-que-phuc-nguyen-thieu-dung/

-Thiết lập các Quẻ DỊCH sau quẻ Phục…đối chiếu với Sấm ký TRẠNG TRÌNH:

http://bagan3.me/2012/03/31/thi%E1%BA%BFt-l%E1%BA%ADp-cac-qu%E1%BA%BB-d%E1%BB%8Bch-sau-qu%E1%BA%BB-ph%E1%BB%A5c-n%E1%BB%99i-tinh-vn-2012-th%E1%BB%AD-d%E1%BB%91i-chi%E1%BA%BFu-v%E1%BB%9Bi-s%E1%BA%A5m-ky-tr%E1%BA%A1ng-trinh/

Trân trọng
Trần Sơn – Tháng 01/2014

Posted in Uncategorized | 3 Comments

2013 in review


The WordPress.com stats helper monkeys prepared a 2013 annual report for this blog.

Here’s an excerpt:

A New York City subway train holds 1,200 people. This blog was viewed about 6,100 times in 2013. If it were a NYC subway train, it would take about 5 trips to carry that many people.

Click here to see the complete report.

Posted in Uncategorized | Leave a comment