Bé sơ sinh CỨU MẸ THOÁT CHẾT… KỲ DIỆU.


12141525_10203667995620027_4328092889230480244_nCó con là điều tuyệt vời nhất đối với nhiều phụ nữ. Tuy nhiên, để đứa con chào đời khỏe mạnh, người mẹ đã phải chịu đựng và vượt quá rất nhiều khó khăn thử thách, thậm chí hy sinh cả mạng sống của mình. Tất cả những điều đó đã xảy ra với một bà mẹ Mỹ, người gần như bị chết ngay trên bàn đẻ nhưng được chính đứa con sơ sinh của mình cứu sống kỳ diệu một tuần sau đó.

Cặp vợ chồng Shelly và Jeremy Cawley đã vô cùng hạnh phúc chờ đón đứa con gái đầu lòng của họ – Rylan – chào đời. Giống như bất kỳ gia đình trẻ nào khác, trước đó, họ đã đi mua sắm rất nhiều quần áo và đồ dùng trẻ em cũng như trang trí nhà cửa để chuẩn bị đón chào thành viên mới.

“Tôi nhớ rất rõ mình nằm trên một cái cáng và được đưa đến phòng mổ. Tôi đã khóc và nói với các bác sĩ rằng, tôi rất sợ mình sẽ không tỉnh dậy sau ca mổ đẻ. Điều kỳ dị là, những lo lắng của tôi đã trở thành hiện thực”, bà mẹ trẻ Shelly kể lại những gì mình đã trải qua.

Trong ca mổ đẻ cấp cứu sau đó, bé Rylan đã chào đời an toàn và khỏe mạnh. Song, mẹ của em bị một cục máu đông lớn làm tắc nghẹn các động mạch chính, khiến cô rơi vào trạng thái hôn mê ngay trên bàn mổ.

Các bác sĩ phát hiện, hai buồng phổi Shelly ứ đọng rất nhiều nước, gây khó khăn trong việc cung cấp oxy cho não và làm giảm huyết áp của cô. Sản phụ trẻ được cho dùng máy hô hấp nhân tạo để duy trì sự sống, trong khi các bác sĩ tìm mọi cách cứu sống cô.

12079103_10156140731570284_8976310794764080189_n

Sau một tuần hôn mê, chẳng còn mấy hy vọng sống dành cho Shelly. Trong một nỗ lực cuối cùng trước khi chính thức tuyên bố bà mẹ trẻ đã chết, các bác sĩ đã thực hiện một hành động được cho là mang tính trực giác nhiều hơn khoa học. Họ đặt bé Rylan lên trên ngực Shelly, để hai mẹ con chạm vào da của nhau lần đầu tiên và kích thích để đứa con khóc bên bầu vú mẹ.

Và điều kỳ diệu thực sự đã xảy ra. Shelly bắt đầu bộc lộ các dấu hiệu sự sống. Trước sự kinh ngạc và vui sướng của mọi người, bà mẹ trẻ dần hồi sinh từ cõi chết và hiện đã hồi phục hoàn toàn.

“Tôi nghĩ đây là điều rất đáng kinh ngạc. Một đứa trẻ vô cùng non nớt (mới 1 tuần) lại có thể mang đến ảnh hưởng lớn đến như vậy. Trong lúc vô vọng, các bác sĩ gần như đã không thể làm được gì, nhưng con bé (Rylan) lại có thể … Tiếng khóc của con có thể đã tiếp cho tôi sinh lực để chiến đấu giành giật sự sống”, Shelly bộc bạch.

Cô và chồng đã viết một cuốn sách về câu chuyện kỳ lạ của mình với hy vọng sẽ tạo nên cảm hướng cho những người khác vững niềm hy vọng trong cuộc sống.
-Tuấn Anh (Theo Diply, USAToday)-


Posted in Uncategorized | Tagged , , , | Leave a comment

LIFE…-Trần Sơn.


1016286_591323217613067_82756730_n

Và đôi tóm lượcTham Khảo
cùng vài suy nghĩ lẩn thẩn…

*1/Ông Winston Churchill đã viết:
“To improve is to change;
to be perfect is to change often.”

*2/Tenzin Gyatso -vị Đạt La Lạt Ma 14th đã phân tích trong “The Compassion Life”:
-As a basic for change, we need to recognize that as long as we live in this world
we will encounter problems, thing that obstruct the fullfillement of our goals. We
remember that not just we but everyone has to undergo…
-This more realistic perspective will increase our determination and our capacity to
overcome trouble…
Indeed, with this attitude, each new obstacle can be seen as yet another valuable
opportinuity to improve our mind, another opportinuity for deepenning our compassion.
Compassion and Love are seen as two aspects of same thing.
In simple terms, compassion and love can be defined as positive thougths and feelings
that give rise to such essential things in Life as Hope, Courage, Determination and
Inner strength…

*3/
.a)Trong di cảo Trung Luận, Bồ tát Long Thọ đã gần như khẳng định
(Inner strength hay) Steady Insight (Tuệ Giác) thoughts and feelings là Tâm Bất Biến hiển định quân Bình (balance) lòng Từ Bi – Yêu Thương hỉ xả nhập hòa dòng chảy tự nhiên của Cuộc Sống (Life)…là trạng thái An Nhiên Tự Tại (Nirvana = Niết Bàn).

Và đó là Trung Đạo mà Phật đã nói đến.

.b)Phải chăng như tướng công Nguyễn Công Trứ đã dẫn Kinh Luân “bồ chữ”
-Làm quan phụ đạo đào kênh, khơi rạch,dẫn nước cho đồng ruộng; khai phá doanh điền
tạo công ăn việc làm cho dân, phát triển Đất nước; hay cầm quân dẹp bạo loạn cướp
bóc của cải người dân lương thiện
-Khi “về vườn” (viết văn hoa là Vui Thú Điền Viên) thì:
“Tri túc, tiện túc hà thời túc
Tri nhàn, tiện nhàn hà thời nhàn”.
Sống Nhàn tản thỏa mái trong Thong Dong Tự Tại (?)

.c)Hoặc giả…
Trong hơn nửa thế kỷ qua, những con chiên, tín đồ mộ đạo…kẻ vô danh tiểu tốt đã trôi nổi
phấn đấu để sinh tồn và phục hưng Đất Nước trong vòng cương tỏa Thịnh – Suy của
ngoại nhân và lân bang.
Thế đấu tranh có nhiều dạng vẻ…như “Cá Vượt Vũ Môn”; như cá hồi “Vượt Cạn” lội ngược dòng, thác vào sông, lạch…chỉ để chết (!)
nhưng lại nhằm để duy trì Sinh & Lực  Con Cháu cho các Thế Hệ mai sau.
Vậy mà vẫn tếu táo – đại ngôn kỳ vọng “như để”

-“Thiên Đàng” hiện diện ngay trong cuộc sống trần gian giả tạm này !
(Transon SN-2015)

Ghi chú:
-Chữ Change: nhà Phật bao hàm trong ý nghĩa Vô Thường.
-Những từ ngữ nội dung phong phú được viết nghiêng hay viết hoa chỉ có mục đích nhấn mạnh.

Posted in Uncategorized | Tagged , , | Leave a comment

“CÁC NGƯƠI ĐÃ LÊN ÁN VÀ GIẾT CHẾT NGƯỜI CÔNG CHÍNH…”


Trích dẫn thư Thánh Giacôbê Tông đồ :

“-Vàng bạc của các ngươi đã bị rỉ sét và rỉ sét sẽ là bằng chứng tố cáo các ngươi và sẽ ăn thịt các ngươi như lửa đốt.
-Các ngươi đã tích trữ cho các ngươi cơn thịnh nộ trong ngày sau hết.
-Này tiền công thợ gặt ruộng cho các ngươi mà các ngươi đã gian lận, tiền đó đang kêu gào và tiếng kêu gào của người thợ gặt đã lọt thấu đến tai Chúa các đạo binh.
-Các ngươi đã ăn uống say sưa ở đời này, lòng các ngươi đã tận hưởng khoái lạc trong ngày sát hại.

Các ngươi đã lên án và giết chết người công chính, vì họ đã không kháng cự các ngươi”.

Pope Francis waves to the crowd during a parade Saturday, Sept. 26, 2015, in Philadelphia. The pontiff attended a music-and-prayer festival there Saturday night to close out the World Meeting of Families, a Vatican-sponsored conference of more than 18,000 people from around the world. (AP Photo/Matt Rourke, Pool)

Pope Francis waves to the crowd during a parade Saturday, Sept. 26, 2015, in Philadelphia. The pontiff attended a music-and-prayer festival there Saturday night to close out the World Meeting of Families, a Vatican-sponsored conference of more than 18,000 people from around the world. (AP Photo/Matt Rourke, Pool)

Ghi chú:
*1/Trích dẫn do nữ tu người Việt đọc trước hàng trăm ngàn giáo dân tham dự Thánh lễ Đồng tế -Đức Giáo Hoàng Chủ tế- ngoài trời, tại thành phố Philadelphia/Mỹ chiều Chủ nhật 27/9/2015.
(Nghe như gởi đến các đảng viên và lãnh đạo Đảng csvn)

Xem thêm:(Tổng kết 04 ngày của Đức Thánh Cha) và Thánh lễ Đức Thánh Cha chủ tế :

*2/Pope Francis performs Mass at the Festival of Families
https://news.yahoo.com/video/pope-francis-performs-mass-festival-001000808.html

Posted in Uncategorized | Tagged | Leave a comment

THIỀN…(Jack Kornfield)


Meditation…
leads to the clear perception of three things:
IMPERMANENCE – SUFFERING -and the Lack of an ABIDING SELF.

11262008_10203302131113836_2255209545840819113_nAs the mind becomes Concentrated and Observant, the constant CHANGE of all physical
and mental phenomena is realized. Absolutely all we know, see, hear, feel, think, smell
and taste – even the ‘watcher’, the knowing of these – is changing from moment
to moment.
As this constant flow is seen more fully, any involvement or attachment becomes clearly
undesirable, a Cause of SUFFERING.

The meditator sees all events of the mind and body as an emty process that happens by
itself. He sees that there is no one, NO “SELF” behind it.
Although this process possesses order, following the Law of Karma or cause and effect,
there is nothing in us that can be seen as permanent – an abiding self or soul.
Simply the orderly unfolding of mind and matter arising and perishing moment to moment.

To see this clearly,to experience deeply the true Emptiness ofSelf, is enormously FREEing.
The mind becomes detached, clear, and radiant.

It is the illusions of permanent, of happiness, and especially of selfhood that bind us to the World of Duality and keep us separate from one another and from the true  flow of  nature.

A deep perception of the Void, the Emptiness of all conditioned phenomena, undercut our desire to grasp and hold on to any object or mind-state as a source of lasting happiness.

FINAL HAPPINESS comes from this NON – ATTACHMENT, this balance.
It is freedom from all suffering. Peace.
*
Meditation…not to used just in isolation.
Meditation is not merely a selfish practice or a cultivation of state of bliss; its encompasses
all of our experience. It is a tool to develop Clarity, an AWARENESS and acceptance of the
flow of events whatever they may be.
In the end, meditation techniques must trancend even themselves.

Then, there will be neither meditation nor non-meditation. Just what is.
(Jack Kornfield – Essential Buddhism/Living Buddhist Masters)

MỜI NGHE audio tiếng Việt

https://archive.org/details/ThienSuDuongThoi-JackKornfield
(Ty khưu Thiện Minh dịch) – Sách Audio –

*

MEDITATION
*
Outwardly
In the world of
Good and evil,
Yet without thoughts
Stirring the heart

This is meditation.

Inwardly
Seeing one’s
Own True Nature
And not being
Distracted from it –
This is meditation.
(Hui Neng)
https://bagan3.me/2012/02/28/t%E1%BB%8Bnh-va-th%E1%BB%A9c/

Posted in Uncategorized | Tagged , , | Leave a comment

MOTHER’ DAY-5/10/2015-


“Vạn cảnh nhiễu tâm vốn do duyên
Tiếng tiếng Phật hiệu Tín Nguyện Kiên
Trì giác vốn không tùy tâm tạo
Vô nại hành nhân nhạo trần ai”
(Cư sĩ Thường Phúc)

-Câu tụng của cư sĩ Thường Phúc để lại trước khi…
-Tự Tại vãng sanh biết trước ngày giờ
-sau 49 ngày – thân thể vẫn mềm mại, thêm đỏ hồng
và bàn tay dần trở nên trong suốt.

TRAO HẾT YÊU THƯƠNG CHO CON
…”trái tim cô đơn của Mẹ
Nào ai có thể hiểu được
Có phải chăng
Xuân hoa thu nguyệt vô tình
Xuân đi, Thu đến
Mẹ vẫn thầm lặng Yêu Thương…”

(còn tiếp)

*
(là Lời của Bài Ca – trong Clip video)
Dưới đây. Mời xem và nghe:

Tham khảo thêm:
https://bagan3.wordpress.com/2013/05/12/ngay-hien-mau/

Tạng thư Sống – Chết – Ni sư Thích Nữ Trí Hải dịch
(The Tibetan Book of Living and Dying/Sogyal Rinpoche)
*Nguyễn Đức Cường thực hiện thành SÁCH NGHE“/YouTube
1/

2/end

Posted in Uncategorized | Leave a comment

HÃY TỰ HÀO LÀ NGƯỜI VIỆT NAM .


NGƯỜI HÁN ĐÃ HỌC CÁCH LÀM RUỘNG NƯỚC TỪ NGƯỜI VIỆT CỔ .

650777cb89d24f.imgảnh minh họa người Việt cổ

NGUỒN GỐC VIỆT TỘC VÀ VĂN MINH BÁCH VIỆT

Trong vùng Đông Nam Á nói riêng, Á Châu nói chung, dân tộc Việt Nam càng ngày càng chứng tỏ là một dân tộc lớn, có một nguồn gốc với tính cách dẫn đầu trong nền văn minh của Á Châu cũng như Nhân Loại. Nhưng, trước đây, thời còn lệ thuộc vào nước Pháp, chúng ta bị các nhà học giả thế giới coi thường, nên việc nghiên cứu về nguồn gốc dân tộc Việt Nam bị coi nhẹ so với những dân tộc có những di tích cổ như Cao Mên với Đế Thiên Đế Thích, Chàm với những tháp cổ ở miền Trung Việt, Thái Lan với sự đỡ đầu của Anh Quốc. Vì thế, khi nói tới chúng ta, họ thường cho chúng ta chịu ảnh hưởng hoặc thuộc các tộc khác như Thái(Đen hay trắng), Cao Mên, Chàm! Do đó, nguồn gốc dân tộc ta và văn minh Lạc Việt vẫn giậm chân tại chỗ kể từ năm 1923 là năm khai quật được Trống Đồng và một số cổ vật ở Đông Sơn, Thanh Hóa, nhưng họ lại cho là phát xuất từ những dân tộc ở Lưỡng Hà hay Ai Cập hoặc Trung Hoa! Bình Nguyên Lộc đã âm thầm nghiên cứu để tìm một giải đáp trước tiên cho chính mình và sau đó cho cả dân tộc Việt cái nguồn gốc đích thực của mình.
http://chimviet.free.fr/tacpham2/hvdn/hvdn01.htm

Asia_satellite_orthographicĐiạ bàn cư trú của người Việt cổ
1 a a a a a a a a a a a a a a a a a a Bách Việt

Nhiều nhà nghiên cứu ngoại quốc hiện đại như bác học Carle Sauer, Giáo sư nhân chủng học, tiến sĩ Mỹ của đại Học Hawaii Wilhelm G.Solheim II, nhà thực vật học, cổ sinh vật học, và khảo cổ người Pháp, bà Madelein Colani đã hổ trợ rất đắc lực cho sự khả tín của học thuyết của học giả Bình Nguyên Lộc, đã soi sáng vào nguồn gốc của Dân Tộc Việt và chứng tỏ địa vị của dân tộc ta trong cộng đồng thế giới đã lên khá cao.
Kết quả là nhà văn Bình Nguyên Lộc đã khám phá ra nguồn gốc dân tộc Việt liên quan tới lịch sử những cuộc thiên di vĩ đại ngay từ thời hồng hoang.

Khởi thủy xuất xứ của tộc Việt. Một biên khảo mới nhất về nguồn gốc tộc Việt của nhà biên khảo Phạm Trần Anh qua tác phẩm Nguồn Gốc Tộc Việt đã lý giải những khúc mắc còn đọng lại trong Nguồn Gốc Mã Lai của Bình Nguyên Lộc.

http://www.binhnguyenloc.de/pages/NghienCuu/NguonGocMaLai/ngml.html

Cũng như Bình Nguyên Lộc, tộc Việt khởi đi từ khu vực Hi Mã Lạp Sơn, tràn vào Trung Nguyên theo hai con đường đông bắc và tây đông, và một đường đi về Đông Nam là đất cổ Việt.
Nhưng khác hẳn Bình Nguyên Lộc, Phạm Trần Anh xác quyết là tổ tiên tộc Việt xuất hiện đầu tiên từ vùng Hòa Bình mà ông gọi là Pro Hoà Bình. Sau đó, để tránh nạn hồng thủy trong lịch sử nhân loại (đã từng được nói trong Thánh Kinh Ky tô Giáo và được khoa học cũng như lịch sử nhân loại chưng minh.) vùng đất cổ Việt là Bắc Việt hiện nay đã bị chìm dưới nước, người cổ Việt phải di chuyển tới vùng Hi mã Lạp Sơn và sa mạc Gô-bi. Cho tới khi nạn hồng thủy chấm dứt, tộc Việt mới theo ba con đường di chuyển sang hướng đông. Ông cũng cho rằng Tam Hoàng gồm Phục Hy, Thần Nông và Nữ Oa là tổ tiên của dòng giống người Việt. Do đó những nhân vật huyền thoại Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân đều là người Bách Việt. Ông cũng là người đều tiên nhắc đến việc vua Lê Thánh Tôn lập đền thờ phụng Xi Vưu để xác nhận nguồn gốc Bách Việt của chúng ta.

11133838_487787138038070_8146949711956436396_n

Lịch sử của nước Việt là một chuỗi những thế kỷ tranh đấu gian khổ để giữ yên bờ cõi của ông cha để lại. Từ Nam Việt Vương Triệu Đà tới các cuộc khởi nghĩa dành độc lập của Trưng, Triệu, của Lý Bôn, Mai thúc Loan, Phùng Hưng tới thời dựng nước của nhà Ngô, nhà tiền Lý và các triều đại nhà Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, rồi hậu Lê , Mạc, Hồ, Nguyễn Tây Sơn sau này đều có những trận thư hùng với quân Trung Hoa của người Hán. Trong suốt những năm tháng đó, đã có thời kỳ người Việt mất nước, chịu sự cai trị của người Hán. Chính sách xâm lược này triều đại nào của Trung Hoa cũng có, kể cả những triều đại đô hộ Trung nguyên như nhà Nguyên của Mông cổ, nhà Thanh của Mãn Châu.
http://www.chuvananbc.com/DacSanCVA2008/pages/33_DanTocVietVaCuocChien.html

C143513_CDV-9.10-gen-in2
CHỬ VIỆT CỔ

Việt Nam là một nước phát minh ra chử viết rất sớm, trước chữ Hán cả nghìn năm và hoàn toàn khác chữ Hán. Các nhà nghiên cứu, Anh, Tiệp xác nhận: “Ngay từ trước công nguyên, người Việt đã có chữ tượng thanh – loại chữ ghép chữ cái thành từ”. Điều này được thể hiện trên các di chỉ khảo cổ đồ gốm, đồ đồng của thời kỳ Đông Sơn như: lưỡi cày, lưỡi xéo, đặc biệt là trống đồng…cùng các hình vẽ chữ viết trên đá cổ Sa Pa, Xín Mần. Pá Màng… theo một hệ thống nhất quán, tất cả đều thể hiện đó là những chữ viết cổ từ thời kỳ tiền văn tự, phát triển và hoàn thiện dần thành bộ chữ “khoa đẩu”.http://minhtrietviet.net/chu-viet-co-chu-khoa-dau/
chữ khoa đẩu là bộ chữ ghi phát âm của tiếng nói (chữ tượng âm) chữ khắc trên bia đá lưng con rùa …chữ có trước cả chữ tượng hình hàng nghìn năm và khác xa so với chữ hán

HịchKhởinghĩaHaiBà TRƯNG - chữViệtCổ.Hịch Khởi Nghĩa – Hai Bà Trưng
Sử cũ cho biết, sau khi nước Nam Việt của Triệu Đà bị người Hán xâm chiếm, văn hóa của Việt tộc bị thi hành chính sách đồng hoá. Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp sang ta bắt đốt hết sách, nhà nào cất giữ thì bị giết hại. Cuộc tận thu trống đồng của Mã Viện năm 43, sau này cuộc cướp phá sách vở của nhà Minh đầu thế kỷ 15…, Với chính sách đó thì chữ “Khoa Đẩu” của người Việt cổ và có thể cả chữ “tượng hình” sơ khai của thời Văn Lang, Âu Lạc, sau một ngàn năm bị đô hộ, tưởng rằng đã bị xoá sạch là điều dễ hiểu.http://kienthuc.net.vn/di-san/su-that-truyen-va-dong-hoa-cua-van-hoa-viet-co-266057.html

Chử cổ Việt

1 a a a a a a a a a a a a a a a a  Chử cổ ViệtBốn chữ Quốc Tổ Hùng Vương được viết bằng chữ Khoa Đẩu.

Người Việt chúng ta không ngạc nhiên khi thấy cổ sử Trung Quốc viết về người Bách Việt với giọng điệu miệt thị và đầy rẫy những sai lạc. Những sai lầm này một phần do lối suy nghĩ tự tôn Hoa Hán bá chủ, một phần do thiếu hiểu biết tìm tòi, và một phần lớn là cố tình bóp méo sự thật. Tác phẩm xuyên tạc người Bách Việt nhất có lẽ là Hậu Hán thư (HHT) của Phạm Việp.

Dựa trên Hậu hán thư, sử gia Trần Trọng Kim của Việt Nam viết rằng người Việt học nghề trồng lúa từ Thái thú Nhâm Diên thời Đông Hán, nhưng thật ra người Việt đã sản xuất và tiêu thụ gạo nhiều ngàn năm trước. Nhâm Diên (tiếng Trung Hoa: 壬延) tới VN, người huyện Uyển, là thái thú quận Cửu Chân vào đầu thế kỷ I thời Hán Quang Vũ Đế, giai đoạn Bắc thuộc lần I trong lịch sử VN. HHT cũng cho rằng nguời Bách Việt chưa biết mặc quần áo, trong khi một khai quật khảo cổ tại Bắc Giang cho thấy cách đây 3400 năm, người Việt đã biết dệt vải làm áo.

Bách Việt là tiếng của người Hán dùng để chỉ tập hợp các sắc dân chủng Việt (phần lớn cư ngụ tại miền nam sông Dương Tử hay sông Trường Giang tức một trong 2 sông lớn của Trung quốc và nằm về phía nam so với Hoàng Hà nằm ở phía Bắc) mà người Hoa Hán gặp gỡ và tranh đấu khi họ bành trướng từ Hoa Bắc (nửa phía bắc của Trung quốc) xuống Hoa Nam (nửa phía nam). Lãnh thổ của bộ tộc Bách Việt, theo huyền sử, là nước Xích Quỷ dưới quyền vua Kinh Dương, bắc giáp Hồ Nam, nam giáp Chiêm Thành, tây giáp Tứ Xuyên, đông giáp biển Đông. Vào thời Xuân Thu Chiến Quốc khoảng thế kỷ thứ ba trước Công nguyên (TCN), sử sách ghi nhận các nước Hồ Việt (ở Hồ Nam), U Việt (ở Triết Giang), Mân Việt (ở Phúc Kiến), Đông Việt (ở Giang Tây), Nam Việt (ở Quảng Đông), Âu Việt (ở Quý Châu & Quảng Tây), Điền Việt (ở Vân Nam), Lạc Việt (bắc Việt Nam), Chiêm Việt (đảo Hải Nam), v.v… Các nước này nằm kế tiếp nhau từ miền nam sông Dương Tử, qua lưu vực sông Hồng, xuống tận bình nguyên sông Mã.

Tới nay thì nhiều tài liệu cổ của Trung Hoa cũng đã công nhận, các vùng đất rộng lớn giữa lưu vực hai con sông Hoàng Hà và Dương Tử vốn là địa bàn cư trú của dân tộc Bách Việt…

Âu Việt, có chữ Âu, có thể là loại chim phổ biến trên vùng đồi núi, ven các triền sông xưa, gần giống như loài Hải Âu sau này.
Lạc Việt, có chữ Lạc, là loại Ngỗng trời hay bay từng đàn lúc chiều tà để tìm nơi trú ẩn. Từ “Lạc” sau này lại đã biến thành từ “Hạc” và trở thành con “Hạc thờ” ở các Đền – Miếu khắp đất nước từ thời xưa đến nay.

Tháng 3.2007, Hàn Lâm viện Khoa học Quốc gia Mỹ đã công bố công trình của các nhà nhân chủng thuộc đại học Durham và Oxford Anh Quốc nghiên cứu mtDNA của heo và dạng răng heo trên toàn vùng Đông Nam Á lục địa và hải đảo đã đi tới kết luận: “Nghiên cứu mới về DNA của heo đã viết lại lịch sử di dân khắp vùng Thái Bình Dương và người Việt cổ (Bách Việt) là cư dân đầu tiên định cư trên các hải đảo Đông Nam Á rồi tới New Guinea, Hawai và Polynesia. Họ mang theo kỹ thuật làm thuyền độc mộc. Nghiên cứu mới về DNA đã viết lại lịch sử di dân khắp vùng Thái Bình Dương – hầu hết cư dân trong vùng có nguồn gốc từ VN.

Nhà nhân chủng Ballinger và đồng nghiệp đã nghiên cứu mtDNA của 7 dân tộc Đông Nam Á đã kết luận thuộc chủng Mongoloid phương Nam mà VN là trung tâm của mtDNA từ đó lan toả ra khắp vùng Thái Bình Dương”.

Người Việt có tỷ lệ cao nhất về biến đổi di truyền; có đủ 4 Haplotype chính gồm A, B, C, D và không có cặp căn bản số 9 giữa 2 thể di truyền COII/ tRNA.LYS mà các nhà di truyền học gọi là “Đột biến đặc biệt Á châu” nên được xem là dân tộc cổ nhất Đông Nam Á. nguồn:
http://www.xaluan.com/modules.php?name=News&file=article&sid=482870#ixzz3WAiab6Fr doc tin tuc http://www.xaluan.com

KẾT KUẬN
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học quốc tế, chúng ta có kết luận về người Bách Việt như dưới đây:
1.Là hậu duệ của người hiện đại đầu tiên trong vùng Đông Á (với di chỉ xương hóa thạch kiếm thấy tại Quảng Tây, ước lượng 60000–70000 tuổi).
2. Sử dụng tiếng nói Austric, một trong bảy ngành tiếng nói cũ nhất của thế giới. Đây là loại tiếng nói đã thành hình và được sử dụng trong quá trình định cư đầu tiên của người hiện đại, trước khi văn minh nông nghiệp ra đời.
3.Tràn lên miền bắc, hợp chủng với người hiện đại đến từ ngã Bắc và Trung Á và tạo thành người Bắc Á (tiêu biểu là Hán tộc).
4.Khai sinh kỹ thuật cấy lúa gạo ruộng nước (di chỉ tìm thấy tại Hemudu, nam Trung Quốc, Ban Kao, bắc Thái Lan, Sakai, bán đảo Mã Lai), mở đầu cho nếp sống định canh định cư và văn minh Hòa Bình vào khoảng 10000 đến 15000 năm trước đây.
Ngày nay, giới khoa học quốc tế, kể cả các khoa học gia hàng đầu của Trung Quốc đồng thuận cho rằng quê hương của cây lúa nước là vùng Đông Nam Á và Nam Trung Hoa.
Các nhà khoa học như A.G. Haudricourt & Louis Hedin (1944), E. Werth (1954), H. Wissmann (1957), Carl Sauer (1952), Jacques Barrau (1965, 1974), Soldheim (1969), Chester Gorman (1970)… đã lập luận vững chắc và đưa ra những giả thuyết cho rằng vùng Đông Nam Á là nơi khai sinh nền nông nghiệp đa dạng rất sớm của thế giới.
Quê hương của cây lúa, không như nhiều người tưởng là ở Trung Quốc hay Ấn Độ, là ở vùng Đông Nam Á vì vùng này khí hậu ẩm và có điều kiện lý tưởng cho phát triển nghề trồng lúa. Theo kết quả khảo cổ học trong vài thập niên gần đây, quê hương đầu tiên của cây lúa là vùng Đông Nam Á, những nơi mà dấu ấn của cây lúa đã được ghi nhận là khoảng 10.000 năm trước Công Nguyên. Còn ở Trung Hoa, bằng chứng về cây lúa lâu đời nhất chỉ 5.900 đến 7.000 năm về trước, thường thấy ở các vùng xung quanh sông Dương Tử. Từ Đông Nam Á, nghề trồng lúa được du nhập vào Trung Hoa, rồi lan sang Nhật Bản, Hàn Quốc, những nơi mà cư dân chỉ quen với nghề trồng lúa mạch.
Lãnh thổ của Âu Việt và Lạc Việt: Nhiều tài liệu cổ của Trung Hoa cũng đã công nhận, các vùng đất rộng lớn giữa lưu vực hai con sông Hoàng Hà và Dương Tử vốn là địa bàn cư trú của dân tộc Tam Miêu và Bách Việt, trong đó dân tộc Việt Thường ở phía Nam lưu vực sông Dương Tử, từ hồ Động Đình và Phiên Dương (thuộc tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc và Lưỡng Quảng ngày nay) trở xuống là đã có một nền văn minh lúa nước rất phát triển, đước coi là cái nôi của lúa nước trên thế giới.

Vietnamcultureguide: Cay lua - Nhoc nhan va vinh quang bieu tuong Viet

Vietnamcultureguide: Cay lua – Nhoc nhan va vinh quang bieu tuong Viet

5. Phát minh kỹ thuật đồ đồng (tìm thấy tại Ban Chiang, Non Nok Tha, bắc Thái Lan và Phùng Nguyên Việt Nam), tương ứng với sự thành hình của các nhóm Bách Việt cách đây trên dưới 4000, 5000 năm. Văn hóa Đông Sơn – một nền văn hóa nổi tiếng của nước Văn Lang (hay Lạc Việt) trong thời đại kim khí bắt đầu cách nay khoảng 2.700 năm – nền nông nghiệp Cổ Đại đã tích lũy một số tiến bộ quan trọng và đã trở nên nề nếp, xã hội đã có nhiều sản phẩm dư thừa qua khai quật tìm thấy các hầm ngũ cốc thối nát trong đất, chậu gốm lớn, thạp đồng. Xã hội nông nghiệp đã có những kỹ thuật tinh xảo, nhứt là khi cư dân phát triển mạnh nghệ thuật luyện kim đúc đồng và sau đó khám phá kim loại sắt.

6.Sau cùng các luận điệu của người Hán lâu nay vẩn cho rằng dân Việt học được cách làm ruộng nước từ người Hán, đó là những lời nói nhằm bêu xấu dân Việt, sách HHT thiếu những chứng minh cho lời nói trên. Ngày nay với các bằng chứng cụ thể bằng khoa khảo cổ học phân tích DNA đã chứng minh được sự có mặt người Việt cổ và nền văn minh lúa nước có trước người Hán.
Văn hóa Đông Sơn – một nền văn hóa nổi tiếng của nước Văn Lang (hay Lạc Việt) trong thời đại kim khí bắt đầu cách nay khoảng 2.700 năm đã được cã thế giới công nhận – nền nông nghiệp Cổ Đại đã tích lũy một số tiến bộ quan trọng và đã trở nên nề nếp, xã hội đã có nhiều sản phẩm dư thừa qua khai quật tìm thấy các hầm ngũ cốc thối nát trong đất, chậu gốm lớn, thạp đồng. Xã hội nông nghiệp đã có những kỹ thuật tinh xảo, nhứt là khi cư dân phát triển mạnh nghệ thuật luyện kim đúc đồng và sau đó khám phá kim loại sắt.

Đó là một nền nông nghiệp dùng cày cuốc và sức kéo trâu bò, nông dân biết dùng các công cụ sản xuất thích hợp cho từng loại đất, biết trồng các giống cây khác nhau cho thích hợp từng mùa, như nhiều giống lúa đã được phát hiện trong các cuộc khai quật ở di chỉ Đồng Đậu cách nay hơn 3.000 năm . Trong thời đại này, nền nông nghiệp lúa nước trở nên thịnh vượng và nước Văn Lang được thành lập, trưởng thành dưới thời Hùng Vương-An Dương

Việc cày cấy trong nhà nông còn một chứng minh rất cụ thể là sự tích bánh chưng bánh dầy, có từ thời Hoàng tử Lang Liêu, tức vua Hùng Hiêu Vương thứ 7 (1631 – 1432) TCN của triều đại Văn lang, trước khi Nhâm Diên( thế kỷ thứ I) làm Thái thú ở VN trên 1500 năm, điều nầy cho thấy người Việt thời Hùng Vương đã biết làm ruộng nước trước khi Nhâm Diên có mặt ở nước Việt trên cã ngàn năm, như vậy không có chuyện người Việt học làm ruộng nước từ người Tàu, mà ngược lại người Trung Hoa đã học cách làm ruộng nước từ người Việt cổ. Vi VN là trung tâm lúa nước của cã thế giới, chứ không riêng gì của vùng Đồng Nam Á.
Những sự thật đã dẩn chứng phía trên đã bị kẻ chiến thắng thống trị biến chúng thành sản phẩm của người Trung Hoa sau khi đã cố gắng xóa bỏ mọi vết tích của nền văn hóa Âu Lạc cổ. Bản chất của người Tàu từ ngàn xưa cho tới nay đều gống nhau, luôn chờ dợi thời cơ để cướp đất biền, đảo luôn cã văn hoá của Việt tộc, để làm của riêng cho mình. Ngày hôm nay khác ngày xưa “Cái gi của César phải trả lại cho César”.

Hãy tự hào về nền văn minh cổ đại của Việt tộc và sự phát đạt về nền nông nghiệp của VN đã đi trước người Tàu cã ngàn năm.
(Biên khảo Lý Bích Thuỷ 5/4/2015)

Nguồn:
http://kimanhl.blogspot.de/

Mời tham khảo thêm:

*Nguồn Gốc Tộc Việt (1) Phạm Trần Anh

*Nguồn Gốc Tộc Việt (2) Phạm Trần Anh

*Nguồn Gốc Tộc Việt (3) Phạm Trần Anh

*Nguồn Gốc Tộc Việt (4) Phạm Trần Anh

Posted in Uncategorized | Tagged | Leave a comment

Tử Vi – tận số của TBT Đảng csvn – Trần Sơn.


Nhân việc TRỌNG sẽ đi Tàu rồi sang MỸ 2015…

59881_340699529360337_869565966_n

Gần đây DLV hay em út tán loạn câu sấm trạng trình “Bảo Giang thiên tử xuất”; họ chiết tự chữ Hán ra hai chữ Đông Anh/ Hà Nội – quê quán của Trọng với vai trò TBT đảng…Như thế “ông như là vị vua Xuất hiện..” theo đúng mệnh Trời.
Riêng tôi – chữ xuất đi theo nhiều từ khác bổ túc thêm nghĩa.
Không hẳn chỉ chữ “hiện” (xuất hiện) mà còn có thể các chữ như xuất… tinh; như XUẤT… HỒN = CHẾT – được suy và luận với Lý của Số sẽ được trình bày phần dưới khảo luận.

1/-Ông Trọng tuổi Giáp Thân 1944 có tinh chất của Nước trong suối (Tuyền Trung Thủy).
Nước trong suối không nhiều nhưng Số này được thêm tam hợp Thủy (Thân – Tí – Thìn).
Tuy vận Số trúc trắc mỗi buổi đầu thực hiện điều gì (Triệt tại Thân) nhưng bù lại được hổ trợ của Lý tam hợp mà công danh thành toại cao (TBT/ Đảng)

2/ a)-Trọng có điểm trùng hợp (khả năng & quyền) với các nhân vật sau trong BCT nhiệm kỳ này: Sang, Dũng, PQThanh, LHAnh, LT Hải, Nghị…đều tuổi Kỷ Sửu 1949 có tinh chất Lửa từ sấm sét (Tích Lịch Hỏa). Vì sao Tuần Không đều tại Ngọ (hỏa) – Mùi (Thổ Mộ hay mang tam hợp tính Mộc của Hợi – Mão – Mùi).
Sao Tuần Không sẽ phá thế Tam Hợp của Hỏa; và Mộc mà Nước sẽ tưới cho cây cỏ phát triển (như thành rừng) thì Hỏa-lửa từ sấm sét sẽ gây TÁC HỌA lớn. Do đó các thành viên của BCT rất cần đến ông Trọng.
-b)Khi nhu cầu cho sinh tồn bản thân cao, Trọng cũng cần cộng tác hay đối tác Mệnh Thủy. Ta đã thấy Nguyễn Bá Thanh tuổi Quí Tỵ – mạng Tràng Lưu Thủy (nước sông cuộn chảy), được ông đưa về Tr.Ưong.
Nhưng Bá Thanh đả chết vào cuối năm NGỌ 2014 (vận hạn của Đảng csvn)sau một chuyến công du qua Tàu (được nghi là bị ám hại bằng chất phóng sạ).
Năm nay Ất Mùi vận hạn của Đảng (Canh Ngọ 1930 – Lộ bàng Thổ (= Đất bên đường  nhị hợp Thài Tuế + lưu Triệt tại Mùi Thổ-Mộ) chưa dứt; Trọng trước khi qua Mỹ phải qua Tàu gặp đối tác Tập Cẩm Bình. Ông Bình này cũng tuổi Quý Tỵ và cũng mang Mệnh Thủy (Trường Lưu Thủy)
Tập Cầm Bình có giúp gì được cho Trọng không ? (nội tình đảng CS Tàu đang rắm rối).
Hay ngược lại – Trọng sẽ hẩm hiu như đàn em Bá Thanh?

3/-Năm 2015, đảng csvn gặp hạn Triệt Thổ-Mộ (Mùi); 2015 là con số tận của Âm Dương sắp tròn đầy (2+0+1+5 =8).
-Năm 2016 (2+0+1+6 = 9); năm Thân cũng là năm thứ 9 trong 12 con giáp.

Vẫn theo Sấm:
“Cửu cửu càn khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tàn.
Trực đáo Dương đầu, Mã vĩ…”

Nguyễn Phú Trọng -nếu tốt phước thì XUẤT môn – (cửa) của BCT không còn giữ chức TBT Đảng.
Nhưng CÓ THỂ tệ hơn là XUẤT HỒN tức qua đời vì hạn Số nặng nề : Hạn Thái Tuế Năm Bính Thân Sơn Hạ Hỏa vs Tuyền trung Thủy của Trọng. Thủy này không còn được Tam Hợp Thủy hổ trợ nữa vì lưu Tuần Không đóng tại Thìn – Tỵ phá cách !

Gặp phá cách lại bị KHẮC NHẬP rất xấu ( lửa dưới núi khắc thủy trong suối…suối sẽ cạn !).
Đôi dòng…

Chúc ông lên đường Bình An.

Phụ chú:

11147145_428388817321220_1933130142975214675_n

Xem CHỮ KÝ của TRỌNG TBT Đảng csvn.
Đã xem TV mệnh số của Trọng liên quan đến đảng csvn – nay lại thấy tỏ tường chữ ký của Trọng.

Lưu ý – chữ ký không biểu lộ khả năng (của người ký) mà chỉ ghi dấu tâm tính (BIỂU LỘ qua) những nét thăng giáng trong cuộc đời mà thôi => Ai nghĩ Trọng là LÚ (NGU ) thì LẦM TO. Lú đây là do tính đa nghi, lươn lẹo nên dẫn đến tâm trí không thông sáng (các dấu chấm, xóa gạch, vòng lên kéo xuống đan chéo vào nhau ). Và chấm dứt bằng chữ thập thì tiên đoán cuộc đời sẽ kết thúc bi thảm, không có lối thoát. Quý Vị hãy theo dõi “nhận xét chữ ký này – trừ khi Trong có thay đổi – ĐỂ XEM CHÍNH XÁC ĐẾN MỨC ĐỘ NÀO.”
( xem chữ ký của Sang-phía dưới- thấy hai người tâm khí tương đồng…cũng kết thúc không lối thoát, tuy bớt bi thảm hơn Trọng)

(Trần Sơn -4/2015)

*THAM KHẢO các bài liên quan:
https://bagan3.wordpress.com/2015/02/18/xuan-at-mui-2015-noi-chuyen-ve-dich-ly-so/

https://bagan3.wordpress.com/2014/01/11/ma-de-duong-cuoc-anh-hung-tan-than-dau-nien-lai-kien-thai-binh/

https://bagan3.wordpress.com/2012/03/31/thi%E1%BA%BFt-l%E1%BA%ADp-cac-qu%E1%BA%BB-d%E1%BB%8Bch-sau-qu%E1%BA%BB-ph%E1%BB%A5c-n%E1%BB%99i-tinh-vn-2012-th%E1%BB%AD-d%E1%BB%91i-chi%E1%BA%BFu-v%E1%BB%9Bi-s%E1%BA%A5m-ky-tr%E1%BA%A1ng-trinh/

Posted in Dịch - Lý Số | Leave a comment